Thứ Hai, 24 tháng 10, 2016

Lỗi lầm !



Làm người thật khó đâu phải thánh nhân nên thường mắc những lỗi lầm trong cuộc sống. Lỗi thì nhiều lắm, có những lỗi có thể bỏ qua, có những lỗi lầm chúng ta không thể nào chuộc lại được, có lẽ đôi lúc trên đường đời tấp nập đầy ắp bon chen cuộc sống này ai cũng có những lỗi lầm như thế. Biết là vậy nhưng sao vẫn mắc sai lầm lớn. Cho tới bay giờ tôi mới thấy ý nghĩa thật sự của "câu chuyện về những cái đinh"




Một cậu bé nọ có tính hay nổi nóng. Một hôm cha của cậu bé đưa cho cậu một túi đinh và nói với cậu:

- Mỗi khi con muốn nổi nóng với ai đó thì hãy chạy ra sau nhà và đóng một cây đinh lên chiếc hàng rào gỗ.

Ngày đầu tiên cậu bé đã đóng hơn một chục cây đinh lên hàng rào gỗ. Và cứ thế số đinh tăng dần. Nhưng vài tuần sau cậu bé đã tập kềm chế dằn cơn nóng giận của mình và số lượng đinh phải đóng mỗi ngày ít đi. Cậu nhận thấy rằng kiềm chế cơn giận của mình dễ hơn là phải đi đóng đinh lên hàng rào.

Đến một ngày, cậu đã không nổi giận một lần nào suốt cả ngày. Cậu đến thưa với cha và ông bảo:

- Tốt lắm, nếu bây giờ con tự dằn lấy được và không nổi nóng một lần thì con hãy nhổ một cây đinh ra khỏi hàng rào.
Ngày lại ngày trôi qua, rồi cũng đến một hôm cậu bé đã vui mừng hãnh diện tìm cha mình báo rằng trên hàng rào đã không còn cây đinh nào cả.

Người cha nói nhỏ nhẹ với cậu:

- Con đã làm rất tốt, nhưng con hãy nhìn những lỗ đinh con để lại trên hàng rào.

Hàng rào đã không giống như xưa nữa rồi. Nếu con nói điều gì trong cơn giận dữ, những lời nói ấy cũng giống như những lổ đinh này, chúng để lại những vết thương khó rất khó lành trong lòng người khác. Cho dù sau đó con có nói xin lỗi bao nhiêu lần đi nữa, vết thương dù lành nhưng vết sẹo cũng còn để lại mãi.

Con hãy luôn nhớ: Vết thương tinh thần còn đau đớn hơn cả thể xác. Bạn bè ta, những người chung quanh ta là những viên đá quí. Họ giúp con cười và giúp con mọi chuyện. Họ nghe con than thở mổi khi con gặp khó khăn, cổ vũ con và luôn sẵn sàng mở trái tim mình ra cho con. Hãy nhớ lời cha...
Hy vọng A (^_*) thấu hiểu và bỏ qua!

Thứ Hai, 13 tháng 7, 2015

Tu cái miệng là tu hơn nửa đời người (nghiệp khẩu)

Chúng ta muốn tu hành được tinh tấn và thành tựu thì phải tránh những chuyện thị phi, vì thị phi mất rất nhiều thời gian một cách vô ích, mà lại gây tạo rất nhiều nghiệp khẩu, oan trái.


Nghiệp là hành động tạo tác nhiều lần có chủ ý, cùa Thân, Miệng và Ý, nguyên nhân đưa tới quả báo, cả hai “nghiệp” và “quả báo” tạo thành” luật nhân quả”, tuần hoàn không dứt, đưa con người luân hồi.

Cố kinh vân: “phù sĩ xử thế, phủ tại khẩu trung, sở dĩ trạm thân, do kỳ ác ngôn”, nghĩa là: Xét người ở đời, búa để trong miệng, sở dĩ giết người, do lời nói ác. 

Cổ nhân cũng có dạy: “Bệnh tùng khẩu nhập, hoạ tùng khẩu xuất”, nghĩa là: Bệnh từ cái miệng do ăn uống mà đem vào, họa cũng từ cái miệng do nói chuyện thị phi mà tạo ra. Phật dạy trong mười ( 10 ) cái nghiệp của con người thì trong đó cái miệng đã chiếm bốn ( 4 ) gần một nửa: 

1/ Chuyện không nói có, chuyện có nói không
2/ Nói lời hung ác
3/ Nói lưỡi đôi chiều
4/ Nói lời thêu dệt. 

Nhưng trong cuộc sống hằng ngày ngoài bốn điều trên, cái miệng còn tạo thêm nhiều nghiệp nữa như: 

5/ Ăn uống cầu kỳ
6/ Phê bình, khen chê
7/ Rêu rao lỗi của mọi người (Tứ chúng), toàn là những điều tổn phước và tội phải đoạ vào địa ngục, cũng như làm mích lòng, gây mâu thuẫn, hận thù giết hại lẫn nhau mà thôi.

Do vậy kinh cũng dạy, trong sinh hoạt hằng ngày có 4 hạng người chúng ta nên tránh:

1/ Hay nói lỗi kẻ khác
2/ Hay nói chuyện mê tín, tà kiến
3/ Miệng tốt, bụng xấu (khẩu Phật, tâm xà)
4/ Làm ít kể nhiều. Từ cái miệng mà ta có thể biết tâm ý và đánh giá được người khác, để có cách ứng xử thích nghi. 

Của cải dù to lớn như núi, nhưng cái miệng ăn lâu ngày cũng hết. Phước đức dù cực khổ gieo tạo nhiều đời, nhưng do cái miệng tạo nghiệp, phê bình, chỉ trích, nói lời ác... thì trong giây phút cũng có thể tiêu tan.

Người xưa cũng có dạy: “ Khẩu khai thần khí tán. Thiệt động thị phi sanh”, tức là mở miệng nhiều lời sẽ hao tỗn thần khí, lưỡi động thường nói chuyện phải trái, hơn thua, đẹp xấu, khen chê...để rồi phải tranh đấu, mạ lị lẫn nhau khiến sanh ra lắm chuyện thương tâm. 

Đấy là chỉ nói sơ qua những điều tai hại thường xảy ra hằng ngày của cái miệng, còn lại suốt trong một đời người, do thoả thích cho cái miệng mà chúng ta đã tạo không biết bao tội lỗi. Do vậy mà Tây phương cũng có dạy: ”Trước khi nói phải uống lưỡi bảy lần” là vậy. 

Cũng có kệ rằng:

“Trăm năm vật đổi sao dời, 
Một câu quý giá muôn đời con ghi. 
Mở lời trước phải xét suy,
Rằng ta cất tiếng ích chi chăng là”.

Lại có thơ: 

“Lời nói đổi trắng thay đen,
Thiên đàng, điạ ngục bon chen lối vào?
Trực ngôn tâm chẳng lao xao.
Giữ tâm thiền định biết bao an lành.” 

Làm ơn hay bị mắc oán, cũng do cái miệng nầy hay kể công, mắng nhiếc, nói sỉ nhục người:

“Thần khẩu nó hại xác phàm,
Người nào nói quá họa làm khổ thân.
Lỡ chân gượng được đỡ lên. 
Lỡ miệng gây họa phải đền trả thôi" 

Cái miệng nầy rất tai hại, ăn uống thì cầu kỳ muốn nuốt vào những món ngon vật lạ cho khóai khẩu, vừa hao tốn tiền của, vừa đem bệnh vào thân, vì động thực vật bây giờ sản xuất chạy theo lợi nhuận nên sử dụng hóa chất rất nhiều, nếu không biết kiêng cữ thì bệnh nan y mang vào thân, để tự làm khổ mình và làm khổ bao người, phải lo chạy chữa, là chuyện đương nhiên. 

Cái miệng cũng có nhiều cái lợi: dùng để ăn uống tốt, nuôi dưỡng cơ thể, dùng để nói năng giao tiếp trong hằng ngày, tạo mối thâm tình, giao hảo hài hòa, thông hiểu lẫn nhau, dùng để thuyết giảng, tụng niệm, dạy học, truyền kiến thức và những điều lợi ích đến được nhiều người.

Đọc câu chuyện trong Quốc văn Giáo khoa thư sau đây sẽ thấy được sự lợi hại về cái miệng, lưỡi: 

Một hôm ông phú hộ ra lệnh cho người làm giết heo và chọn phần quí nhất của con heo làm cho ông một món ăn. Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông một món ăn mà phần quí nhất là cái lưỡi heo. Ông phú hộ hỏi tại sao thì người làm trả lời rằng cái lưỡi là bộ phận quí nhất, vì nhờ cái lưỡi mà con người có thể diễn đạt những tình cảm chân thành, những ý tưởng cao siêu, ích nước lợi dân và có ích cho nhân loại.

Ít lâu sau, ông phú hộ lại ra lệnh cho người làm giết heo và chọn một bộ phận xấu xa nhất làm cho ông một món ăn. Người làm vâng lời và sau đó dâng cho ông phú hộ một dĩa đồ ăn mà bộ phận xấu xa nhất lại cũng là cái lưỡi heo. Ông phú hộ hỏi tại sao, người làm bèn trả lời rằng vì cái lưỡi có thể nói lên những lời nói xấu xa nhất tàn ác nhất làm tan nát gia đình xã hội và có thể khuynh đảo nước nhà ngay cả làm hại cho nhân loại. Ông phú hộ vô cùng ngợi khen sự thông minh của người làm.

Thật là cái lưỡi không xương nhiều đường lắc léo. Người xưa cũng có nói “Nhứt ngôn khả dĩ hưng bang, nhứt ngôn khả dĩ tán bang”, nghĩa là một lời nói có thể xây dựng nước nhà, mà cũng có thể làm tan nát nước nhà. 

Lược sơ qua những điều lợi hại, thì chúng ta đã thầy cái miệng, lưỡi của người thế gian điều hại sẽ nhiều hơn điều lợi rồi. Tạo hóa sinh ra con người có hai lổ tai, nhưng chỉ có một cái miệng, cho nên phải nghe nhiều hơn nói, mới đúng với tự nhiên, được thân người là khó, có đầy đủ lục căn và miệng lưỡi trọn vẹn là phước đức quá rồi, hãy nhân vốn phước báu nầy mà gieo trồng thêm phước đức ra nữa, thì mới là người khôn, bởi vậy phải lo: Tu cái miệng là điều cần thiết nhất và xem như tu hơn nửa đời người rồi. 

Có lời dạy dạy:

“ Người khôn nói ít nghe nhiều,
Lựa lời đối đáp, lựa điều hỏi han,
Trước người hiểu rõ khôn ngoan. 
Nhường trên một bước rộng đường dể đi.
Việc người chớ nói làm chi.
Chuyện mình mình biết, vậy thì mới khôn”

Người đời cũng có câu:

“ Chim khôn hát tiếng rảnh rang.
Người khôn nói tiếng dịu dàng dễ nghe. 
Nghe rồi tỏ ngộ Bồ đề. 
Khuyên người niệm Phật đồng về Tây phương”.

Lại cũng có thơ:

“Bớt đi lời nói thị phi, 
Bớt đi tội lỗi sân si đau buồn 
Thêm câu niệm Phật nhiều hơn. 
Phước điền thêm lớn tâm hồn thêm vui" 

Và:

“Ít nói một câu chuyện,
Niệm nhiều một câu Phật,
Đánh chết được vọng niệm,
Pháp thân ta hiện tiền”.

Trong kinh Pháp Cú, Phật có dạy:

- “ Dầu nói ngàn ngàn lời, Nhưng không gì lợi ích, tốt hơn một câu nghĩa, nghe xong được tịnh lạc”. PC 100.

hay:

- “ Không phải vì nói nhiều, mới xứng danh bậc trí, an ổn không oán sợ, thật đáng gọi bậc trí” PC 258

- “ Không phải vì nói nhiều, là thọ trì chánh pháp, người nghe ít diệu pháp, nhưng trực nhận viên dung, chánh pháp không buông lung, là thọ trì Phật Pháp”. PC 259. 

Phật cũng có dạy: “Làm thinh như chánh pháp, nói năng như chánh pháp” là như vậy.

Là người tu, một lời nói ra phải giúp cho nhiều người thông hiểu, an lạc, lợi ích thì chúng ta không tiếc lời, phước đức cũng rất vô biên, nhưng rất phải cẩn ngôn, cẩn ngữ khi phải nói ra những lời khiến người khác phải khổ đau, thiệt hại, thì chúng ta sẽ phải gặt hái những điều tương ứng.

Tạo Phước đức cả một đời, nhưng chỉ cần một lời ác khẩu nói ra là tiêu tan trong giây phút. “Lời nói không mất tiền mua, lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Nhất là chúng ta muốn tu hành được tinh tấn và thành tựu thì phải tránh những chuyện thị phi, vì thị phi mất rất nhiều thời gian một cách vô ích, mà lại gây tạo rất nhiều nghiệp khẩu, oan trái.

Có bài thơ rất hay:

“Lời qua tiếng lại - giải quyết chi đâu? Sao không dừng lại - kẻo hố thêm sâu.
Lời qua tiếng lại - đưa ta đến đâu? Sao không thở nhẹ - mĩm cười nhìn nhau.
Lời qua tiếng lại - đưa ta đến đâu ? Sao không dừng lại - thở nhẹ và sâu.”

Xin luôn nhớ cho rằng:

“ Trăm năm bia đá thì mòn, ngàn năm bia miệng vẫn con trơ trơ”

và: 

Ai ơi ! Ít nói là vàng
Nói nhiều tội lỗi trái ngang cũng nhiều
Chi bằng ít nói bao nhiêu
Khỏi điều phiền não, khỏi điều thị phi
Hằng ngày tam nghiệp vô vi
Không tranh nhân quả có gì đảo điên
Không nghiệp chướng chẳng lụy phiền vô ưu,
vô não nương thuyền tiêu dao.

Lợi hại như vậy đấy, nên mỗi chúng hãy mau lo tu cái miệng vậy. 

Trong cuộc sống hằng ngày chúng ta thường đối đãi với nhau, cái miệng phải luôn mỉm cười, nhạy lời xin lỗi và trọng lời cảm ơn. Phải tương kính, dùng ái ngữ, không tiếc lời khen, tán dương, ca tụng, truyền rao những người tốt, việc tốt, những điều hay, lẽ phải để nhân những điển hình tốt đẹp ra thêm làm tô thắm cuộc đời. Phải rất dè dặt tiếng chê. Nên ăn chay để bảo vệ môi trường và cứu tinh cầu. Không nói dối, mà phải nói những lời chân thật. Không dối gạt, ta sẽ nhận được nhiều uy thế, tiếng tăm. Không nói lời thêu dệt, mà nói những lời trung thực, sẽ được nhiều người kính mến. Không nói lời đâm thọc, mà nói lời hoà hợp sẽ được nhiều người ủng hộ. Không nói lời thô ác, mà nói toàn những lời hòa nhã, thương yêu, sẽ có cuộc sống cao sang. Đấy là những pháp tu cho cái miệng, rất hay, rất bổ ích, chúng ta cần thực hiện theo, để gặt hái được nhiều phước đức, lúc đó cuộc đời, gia đình và xã hội, trong hiện tại được thanh bình, an đẹp và tương lai sẽ sanh vào nơi an lạc, thật hạnh phúc nào bằng.


Thơ về NGHIỆP KHẨU

Kinh dạy cái miệng tội lỗi vô cùng
Nghiệp khẩu có bốn, nói chung rất nhiều
Lời thời hung ác, lưỡi lại đôi chiều
Chuyện không nói có, có thời nói không

Nhiều lời thêu dệt, lắm chuyện viễn vông
Đâm bì thóc nọ thọc bì gạo kia 
Khiến cho bao kẻ chịu cảnh chia lìa
Nát tan nhà cửa gia đình thảm thương

Lại thêm rao lỗi tứ chúng bốn phương
Trước mặt khen nịnh sau lưng chê cười
Thương thay người lại biến thành đười ươi
Để cho đánh mất tình người trong ta.

Cái miệng ăn uống rất đổi xa hoa
Giết bao loài vật để mà nuôi thân
Nhậu nhẹt say khướt như kẻ ngu đần
Thân mình phá hoại bệnh tình phải mang.

Ung thư đột quỵ bệnh gút rõ ràng
Nhà hàng ăn uống cầu kỳ nhẫn tâm
Quan điểm hưởng thụ tạo mọi lỗi lầm
Cũng từ cái miệng ăn càng nói xiên.

Họa tai lại đến lắm chuyện não phiền
Lỡ lời một tiếng hận thù ngàn năm
Lòng ta trong sáng tợ ánh trăng rằm 
Chiếu soi nhân thế tỏ đường quy-y.

Khiêm cung đối đãi tôn trọng lễ nghi
Nhạy lời xin lỗi trọng lời cảm ơn
Nhân văn đẹp tuyệt còn có nào hơn
Tán dương ca tụng trọng người hơn ta.

Miệng cười tươi đẹp thanh thoát như hoa 
Thành người cao qúy trên đời tôn vinh 
Khẩu nghiệp không tốt nay biến thành xinh
Ăn sạch nói đẹp thanh bình hoan ca.

Viên Thành
Nguồn tin: daophatngaynay.com

Thứ Ba, 21 tháng 10, 2014

Ngồi Thiền (Phật Giáo Ca) - Hoài Nam



Ngồi thiền

Ngồi thiền trên tảng đá xanh
Gió ngàn di động muôn cành nở hoa
Nắng vàng nhè nhẹ trôi qua
Mây đang gợn sóng in tà áo ai
Xuyên qua bao dặm đường dài
Gió ơi dừng lại ta hỏi mấy câu
Đêm đêm hứng giọt sương sầu
Lá xa nguồn cội biết đâu lối về
Hồn ơi thức tỉnh cơn mê
Trở về chánh niệm chứ mê tình đời
Mắt đừng ô nhiễm mắt ơi
Tai không nghe mãi chuyện đời thị phi
Chân ơi dừng lại đừng đi
Để tâm lắng đọng những gì đã qua
Rũ xong cái nghiệp ta bà
Thoát căn nhà lửa đáo tòa Như Lai.
~ Khuyết Danh ~

Thứ Sáu, 15 tháng 8, 2014

Nỗi đau quá lớn do Ebola mang lại

Hành trình tới cái chết của một nạn nhân nhiễm Ebola

Bùng phát từ tháng 2, đến nay virus Ebola đã cướp đi mạng sống của 1.013 người ở 4 quốc gia Tây Phi gồm Liberia, Guinea, Sierra Leone và Nigeria bất chấp những nỗ lực của Chính phủ các nước trong khu vực cũng như cộng đồng quốc tế.
Châu Âu cũng đã ghi nhận ca tử vong đầu tiên do nhiễm virus chết người Ebola, đó là linh mục người Tây Ban Nha, ông Miguel Pajares.
Tổ chức Y tế thế giới gọi sự bùng nổ của dịch Ebola là tồi tệ nhất trong vòng bốn thập kỷ qua. Hiện tại vẫn chưa có thuốc điều trị cho dịch bệnh có khả năng gây tử vong tới 90% này.
Trong thời gian dịch bệnh bùng tại châu Phi, đã có rất nhiều nhiếp ảnh gia có mặt tại vùng đất này để ghi lại cảnh tượng kinh hoàng mà người dân nơi đây đang phải gánh chịu. Hình ảnh các nạn nhân đau đớn, vật vã, khổ sở hay những thi thể bị ném bỏ giữa đường khiến người dân trên toàn thế giới ám ảnh, lo lắng.
Nhiếp ảnh gia Sylvain Cherkaoui cùng tổ chức nhân đạo Bác sĩ không biên giới (MSF) đã đến Tây Phi để giúp đỡ những người nhiễm virus Ebola và chụp lại những bức hình thương tâm về các bệnh nhân đang phải vật vã với căn bệnh này.
Trong chuyến đi của mình, nhiếp ảnh gia Sylvain Cherkaoui đã gặp Finda Marie Kamano - một phụ nữ 33 tuổi đến từ Guéckédougou, Guinea và ông đã ghi lại hành trình người phụ nữ này bị virus Ebola phá hoại dẫn đến tử vong.
Năm người thân trong gia đình Finda Marie Kamano đã tử vong do nhiễm virus Ebola. Finda được các nhân viên y tế phát hiện trong tình trạng nôn mửa và sốt. Cô nhận ra mình chỉ đủ sức đi 30m tới xe cứu thương.
Finda đã ý thức được sự nguy hiểm của dịch bệnh chết người, cô đã rất cẩn thận khi tắm rửa và chăm sóc người thân trong thời gian họ bị bệnh, nhưng thật không may, cô đã vô tình tiếp xúc với chất dịch trên cơ thể người bệnh. Đây là cách lân lan duy nhất của virus Ebola.
Nhiếp ảnh gia Cherkaoui trong trang phục bảo hộ, bước vào bệnh viện, an ủi Finda với hy vọng sức khỏe của cô sẽ khá hơn. Nhưng đến ngày thứ 3, sức khỏe Finda yếu đi trầm trọng, và cô đã tử vong.
Dưới đây là chùm ảnh do nhiếp ảnh gia Sylvain Cherkaoui ghi lại về hành trình đi đến cái chết của Finda khi vật lộn với virus chết người Ebola:
 Nhiếp ảnh gia đã gặp Finda Marie Kamano - một phụ nữ 33 tuổi đến từ Guéckédougou, Guinea
 Finda đã phải chăm sóc cho 5 người thân trong gia đình nhiễm Ebola và cô cũng mắc phải căn bệnh quái ác này
 
 Trong lúc chăm sóc cho người thân, cô đã vô tình tiếp xúc với dịch trên cơ thể người bệnh
 Cô hiểu được rằng trước sau mình cũng sẽ chết bởi căn bệnh quái ác này

 Các nhân viên y tế phát hiện ra Finda khi cô đang nôn mửa và sốt nhẹ
 Các nhân viên y tế đang chăm sóc cho Finda
 Họ an ủi Finda với hy vọng cô có thể vượt qua dịch bệnh
 Sau khi Finda được chẩn đoán nhiễm Ebola, một đội nhân viên y tế ở Tổ chức bác sĩ không biên giới đã tới nhà cô khử trùng bằng chlorine.
 Mọi vật dụng trong nhà Finda đều được khử trùng hoặc bị đốt
 Trong khi đó, người nhà Finda khi nghe tin cô nhiễm Ebola đã chuẩn bị sẵn cho cô 1 chiếc quan tài
 3 ngày sau khi nhiễm Ebola, Finda sức khỏe yếu dần và tử vong
 Finda được chôn ở nơi cách nhà cô vài bước chân.
 Ánh mắt của những người thân bên mộ của Finda Marie

 Nguồn : http://hcm.24h.com.vn/suc-khoe-doi-song/hanh-trinh-toi-cai-chet-cua-mot-nan-nhan-nhiem-ebola-c62a650773.html

Thứ Tư, 13 tháng 8, 2014

Nhân sinh cảm ngộ: Trừ bỏ dục vọng

Tác giả: Quán Minh

[Chanhkien.org] Khi một người thác sinh vào thế giới này, người ấy không mang theo gì cả. Không có gì trên đời này sẽ đi theo người ấy hay có thể được mang theo khi người ấy rời đi. Tuy vậy lại có rất nhiều cám dỗ trên hành trình cuộc sống. Ngày nay, những người ôm giữ nhiều dục vọng mạnh mẽ lại cho rằng các ham muốn ấy là bản năng gốc của nhân loại. Họ tin rằng dục vọng là động lực trong cuộc sống, nhưng rất ít ai chịu nghĩ sâu hơn về tác hại của việc dung dưỡng quá mức lòng tham không đáy của mình. Nhân loại có thất tình lục dục. Những ham muốn ấy có nguyên lai từ nhiều mặt: thức ăn, vật chất, danh vọng, lợi ích cá nhân, sắc dục và quyền lực. Nếu một người không biết cách kiềm chế dục vọng của mình, cả cuộc đời của người ấy sẽ chỉ là một quá trình liên tục theo đuổi dục vọng của mình. Chỉ bậc trí giả có tâm vô vi và ít ham muốn mới hiểu được niềm vui của sự bình dị và thỏa mãn.
Vào thời cổ đại, người Trung Quốc có tiêu chuẩn đạo đức rất cao và họ đã truyền lại những lời dạy về việc kiểm soát dục vọng của con người.
Nhất niệm chi dục bất năng chế, nhi họa lưu vu thao thiên.
Hoạn sinh vu đa dục.” (Lưu An)
(“Chỉ một niệm ham muốn không được kiềm chế thì hậu quả cũng sẽ thật khôn lường.”
“Nhiều dục vọng sinh ra tai họa.”)
Nhân hữu dục, tắc kế hội loạn, kế hội loạn nhi hữu dục thậm, hữu dục thậm tắc tà tâm thắng, tà tâm thắng tắc sự kinh tuyệt, sự kinh tuyệt tắc họa loạn sinh.” (Hàn Phi Tử)
(“Người nào mang theo dục vọng, tâm ắt sẽ loạn, tâm loạn thì dục vọng càng mạnh, dục vọng mạnh khiến tà tâm chi phối, tà tâm chi phối làm cho cách hành xử rối loạn, hành xử rối loạn chắc chắn sẽ sinh ra tai họa.”)
Quân tử đa dục tắc tham mộ phú quý, uổng đạo tốc họa; tiểu nhân đa dục tắc đa cầu uổng dụng; bại gia tang thân.” (Tư Mã Quang)
(Bậc quân tử mà ham muốn nhiều thì sẽ trọng vật chất và lạc sang đường tà; kẻ tiểu nhân mà có nhiều ham muốn thì sẽ truy cầu phú quý và hậu quả là tán gia bại sản và mất mạng.)
Kiến khả dục, tắc tri túc dĩ tự giới.” (Ngụy Chinh)
(Tự biết được ham muốn của mình thì ắt sẽ biết cách tự tiết chế bản thân.)
Dưỡng tâm mạc thiện vu quả dục.” (Mạnh Tử)
(Tu tâm chẳng qua chính là kiềm chế dục vọng bản thân.)
Nhân nhược bất tri túc, tham dục hạo vô cùng.” (Lục Du)
(Kẻ tham lam thì không biết thế nào là đủ.)
Tất cả những danh ngôn kể trên đều khuyên chúng ta không được nảy sinh dục vọng (bất tham dục), không dung túng bản thân (bất túng dục), cũng như không được đam mê dục vọng (bất thị dục). Chúng ta phải bảo trì các tiêu chuẩn đạo đức và tiến dần từ ít ham muốn đến không còn ham muốn trong khi vẫn giữ ý chí kiên cường.
Đại dương có thể dung chứa hàng trăm con sông, và hàng ngàn vách đá có thể đứng sừng sững nhờ ý chí kiên cường. Lâm Tắc Từ, tổng đốc của một tỉnh vào triều Thanh trong giai đoạn thời gian mà thuốc phiện bị cấm buôn bán, đã từng nói những điều mà mỗi khi đọc lại, tôi đều có thể cảm nhận được sự cởi mở, ý chí kiên cường, sự rộng lượng và tinh thần chính trực của ông: “Khi khiêm tốn và cởi mở thì chúng ta có thể tiếp thu nhiều ý kiến khác nhau. Khi không mưu cầu điều gì và không tranh đấu với ai, thì chúng ta cũng giống như những vách núi xuyên thấu trời xanh và đứng sừng sững một cách kiêu hãnh. Con người ta càng ít ham muốn thì tâm tư càng thoải mái. Người ta càng ít tìm kiếm thì càng trở nên mạnh mẽ. Dục vọng làm suy nhược ý chí.”
Cổ nhân có câu: “Tâm vi hình sở luy” (Tâm hồn sẽ trở thành cái mà nó dung chứa). Một người ham muốn càng nhiều thì áp lực càng nặng nề hơn. Ôm giữ càng nhiều dục vọng thì càng bị ràng buộc chặt hơn. Khi đã rơi vào vực thẳm dục vọng thì con người không thể thoát ra được. Dục vọng sẽ ăn mòn ý chí, làm tha hóa lương tri và hậu quả là biến chúng ta thành nô lệ. Trên thực tế, có nhiều người đã hủy hoại sức khỏe, uy tín và nhân cách của bản thân chỉ vì ham muốn. Khi tâm của một người chứa đầy lợi ích và dục vọng cá nhân thì người ấy không thể có một nhân cách tốt hay ý chí mạnh mẽ được.
Thế gian tràn ngập cám dỗ và cực kỳ khó khăn để đạt được cảnh giới vô dục (không ham muốn). Để làm được như thế, con người nhất thiết phải bảo trì tâm thái tĩnh lặng như mặt nước. Tất nhiên đây không phải là cảnh giới của người thường. Tâm hồn chỉ có thể tĩnh lặng như mặt nước khi người ta vứt bỏ hết mọi bụi trần và sống với lòng biết ơn vì đã tìm thấy ý nghĩa của cuộc sống. Chỉ khi một người tu luyện hiểu được các nguyên lý của vũ trụ và ý nghĩa thật sự của cuộc sống thì người đó mới có thể không còn ham muốn, chiến thắng mọi cám dỗ và giữ được tâm hồn tinh khiết.
Khi không mang theo ham muốn, nhân loại sẽ tự nhiên có được những phẩm chất cao đẹp. Không có dục vọng, con người sẽ có ý chí mạnh mẽ và trí tuệ. Không bị dục vọng chi phối, con người sẽ có thể tìm được phương hướng trong cõi mê này, luôn lý trí và sống đúng với chân ngã của mình. “Vô dục” là một cảnh giới tâm linh cao thượng mà trong đó nhân phẩm của một người sẽ giống như một cây thông: vĩnh viễn đứng thẳng trong mưa gió.
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/node/44344
http://www.pureinsight.org/node/4678
nguồn: http://chanhkien.org/2014/05/nhan-sinh-cam-ngo-tru-bo-duc-vong.html

Chủ Nhật, 10 tháng 8, 2014

Những bài thơ viết về cha


(Rằm tháng 7 Al 2014 - Tuần chung thất)

Cầu Nguyện Cho Cha

Tuổi hạc thâm niên, tóc điểm sương
Cha già sức yếu, bệnh đau thường
Con thơ xót dạ thành tâm nguyện
Trẻ dại đau lòng, thắp nén hương
Bồ Tát linh thiêng xin cứu độ
Phật Trời mầu nhiệm, rủ lòng thương
Cho cha mạnh khoẻ bình an mãi
Con trẻ không sầu, cảnh đoạn trường

Ơn Cha

Thời gian thấm thoát trôi qua,
Người đi kẻ ở bông hoa đổi màu,
Cuộc đời lắm lúc thương đau,
Hỏi người có biết vì sao có mình?
Nhờ ơn Đức Chúa Thánh Linh,
Tạo ra nhân thế, ban tình thương cha,
Dù cho con phải bôn ba,
Công cha là cớ, khi xa nhớ về,
Nhớ trong những lúc não nề,
Vì con cha vẫn mãi mê lo làm,
Cho con được tấm thân an,
Nuôi con khôn lớn không màng khó khăn,
Cho con manh áo cơm ăn,
Đem lời dạy dỗ ân cần khuyên lơn,
Ơn cha như núi Thái Sơn,
Như vùng biển cả không sờn vì con,
Trong đời lên núi xuống non,
Ơn cha bát ngát vẫn còn hôm nay,
Cầu xin ơn Đức Chúa Ngài,
Tuôn tràn ân điển mãi hoài cho cha!
Công cha như bản tình ca,
Muôn đời diệu thỏa ngân nga thân tình!

Thứ Bảy, 9 tháng 8, 2014

12 Đại Nguyện Của Quán Thế Âm Bồ Tát


1. Nam Mô hiệu Viên-Thông, danh Tự Tại, Quan-Âm Như Lai quảng-phát hoằng thệ nguyện. (Lạy)
Được xưng tặng là hiểu biết đầy đủ thông dong hoàn toàn, Ngài đem pháp tu hành mà khuyên độ khắp cùng.
 
Nguyện Thứ Nhất:  
Khi thành Bồ Tát
Danh hiệu tôi: Tự Tại Quán Âm
Mười hai lời nguyện cao thâm
“Nghe tiếng cứu khổ” Quán Âm thề nguyền.



2. Nam-mô vô quái ngại, Quan-Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện. (Lạy)
Ở trong một niệm tâm được tự tại vô ngại, Ngài nguyện thường ở biển phương Nam (Nam Hải)để cứu độ chúng sanh.
Nguyện Thứ Hai: 
Không nài gian khổ
Quyết một lòng cứu độ chúng sanh
Luôn luôn thị hiện biển đông
Vớt người chìm đắm, khi dông gió nhiều.



3. Nam-mô trú Ta-Bà U-Minh giới Quan Âm Như-Lai tầm thanh cứu khổ Nguyện. (Lạy)
Luôn ở cõi Ta Bà và cõi U-Minh, Ngài cứu độ kẻ nào kêu cầu tới Ngài

Nguyện Thứ Ba: 
Ta Bà ứng hiện
Chốn U Minh nhiều chuyện khổ đau
Oan oan tương báo hại nhau
Nghe tiếng than thở, mau mau cứu liền.





4. Nam-mô hàng tà ma, trừ yêu quái Quan Âm Như-Lai năng trừ nguy hiểm nguyện. (Lạy)
Trừ khử loài tà ma, yêu quái, Ngài có đủ sức cứu người gặp nguy hiểm.
Nguyện Thứ Tư: 
Hay trừ yêu quái
Bao nhiêu loài ma quỉ gớm ghê
Độ cho chúng hết u mê
Dứt trừ nguy hiểm, không hề nhiễu nhương.





5. Nam-mô thanh tịnh bình thùy dương liễu, Quan Âm Như-Lai cam-lộ sái tâm nguyện. (Lạy)
Ngài nhành dương liễu dịu dàng nhúng vào nước ngọt mát trong cái bình thanh tịnh để rưới tắt lửa lòng của chúng sanh.
Nguyện Thứ Năm: 
Tay cầm Dương Liễu
Nước cam lồ rưới mát nhân thiên
Chúng sanh điên đảo, đảo điên
An vui mát mẻ, ưu phiền tiêu tan.





6. Nam-mô Đại-Từ bi năng hỉ xả, Quan Âm Như-Lai thường hành bình đẳng nguyện. (Lạy)
Thương xót người đói và sẵng lòng tha thứ, Ngài không phân biệt kẻ oán người thân, tất cả đều coi như nhau.
Nguyện Thứ Sáu:  
Thường hành bình đẳng
Lòng từ bi thương xót chúng sanh
Hỷ xả tất cả lỗi lầm
Thường hành bình đẳng, chúng sanh mọi loài.





7. Nam-mô trú dạ tuần vô tổn hoại, Quan Âm Như-Lai thệ diệt tam đồ nguyện.(Lạy)
Đêm ngày đi khắp đó đây để cứu giúp chúng sanh ra khỏi các sự tổn hại, Ngài nguyện cứu vớt chúng sanh ra khỏi ba đường ác: địa ngục, ngạ quỷ, và súc sanh.
Nguyện Thứ Bảy:  
Dứt ba đường dữ
Chốn ngục hình, ngạ quỉ, súc sanh
Cọp beo . . ., thú dữ vây quanh
Quán Âm thị hiện, chúng sanh thoát nàn.





8. Nam-mô vọng Nam nham cầu lễ bái, Quan Âm Như-Lai, già tỏa giải thoát nguyện. (Lạy)
Nếu ai quay về núi hướng nam mà hết lòng cầu nguyện thì dầu có bị gông cùm xiềng xích cũng được thoát khỏi
Nguyện Thứ Tám:  
Giải thoát còng la
Nếu tội nhân sắp bị khảo tra
Thành tâm lễ bái thiết tha
Quán Âm phò hộ, thoát ra nhẹ nhàng.




9. Nam-mô tạo pháp-thuyền du khổ hải, Quan Âm Như-Lai độ tận chúng sanh nguyện. (Lạy)
Dùng phép tu hành để làm chiếc thuyền, Ngài đi cùng trong biển khổ để độ hết chúng sanh.
Nguyện Thứ Chín:  
Cứu vớt hàm linh
Trên con thuyền Bát Nhã lênh đênh
Bốn bề biển khổ chông chênh
Quán Âm độ hết, đưa lên Niết Bàn. 





10. Nam-mô tiền tràng phan, hậu bảo cái, Quan Âm Như-Lai tiếp dẫn Tây Phương nguyện. (Lạy)
Nếu ai cầu nguyện và tu hành theo Ngài chỉ dẫn, khi rời bỏ xác thân này thì sẽ có phướng dài đi trước, tàng lọng quý giá theo sau, để rước về Tây Phương.
Nguyện Thứ Mười:  
Tây Phương tiếp dẫn
Tràng hoa thơm, kỹ nhạc, lộng tàn
Tràng phan, bảo cái trang hoàng
Quán Âm tiếp dẫn, đưa đàng về Tây. 





11. Nam-mô Vô Lượng Thọ Phật cảnh giới, Quan Âm Như-Lai Di Đà thọ ký nguyện. (Lạy)
Ở giới của Đức Vô Lượng Thọ (tức Phật A Di Đà), Ngài đã được cho biết trước là về sau Ngài sẽ thay thế Đức Phật A Di Đà ở ngôi vị đó.
Nguyện Thứ Mười Một:
Di Đà thọ ký
Cảnh Tây Phương, tuổi thọ khôn lường
Chúng sanh muốn sống miên trường
Quán Âm nhớ niệm, Tây Phương mau về.





12. Nam-mô đoan nghiêm thân vô tỉ trại, Quan Âm Như-Lai quả tu thập nhị nguyện. (Lạy)
Được thân hình nghiêm trang không ai so sánh được với Ngài, ấy là kết quả của sự tu theo mười hai lời nguyện lớn ấỵ.

Nguyện Thứ Mười Hai:
Tu hành tin tấn
Dù thân nầy tan nát cũng đành
Thành tâm nghiêm chỉnh thực hành
Mười hai câu nguyện độ sanh đời đời.




Nguồn: sưu tầm và tổng hợp

Sự tích Quan Thế Âm Bồ Tát


Đức Phật Bổn sư Thích ca Mâu ni khi nói kinh Bi Hoa đã dạy rằng : - Về thời qúa khứ lâu xa về trước, đức Quán Thế Âm làm thái tử con của vua Vô Tránh Niệm. Thời bấy giờ có đức Phật hiệu là Bảo Tạng Như Lai hiểu được đạo lý vô thượng, Vua và Thái tử phát tâm Bồ-đề rộng lớn, nguyện tu các hạnh Bồ tát, mong thành Phật quả để phổ độ chúng sanh.

Khởi đầu đức Vua và Thái tử làm người thí chủ chân thành cúng dường các thứ y phục, thuốc men, vật thực, mùng mền và tất cả các món cần dùng lên đức Bảo Tạng Như Lai và chúng tăng trong suốt 3 tháng. Nhờ nhất niệm tinh chuyên, tinh tấn không ngừng, vua Vô Tránh Niệm chứng thành quả Phật và phát 48 lời thệ nguyện rộng lớn để tế độ khắp cả chúng sanh, Ngài liền thành Phật hiệu là A-di-Đa, giáo chủ cõi Tây Phương Cực lạc. Thái tử công hạnh cũng tròn đầy viên mãn cũng về cõi Cực Lạc thành bậc đại Bồ Tát hiệu là QUÁN-THẾ-ÂM cùng với Phật A-DI-ĐÀ tiếp dẫn chúng sanh về cõi Cực lạc.

Ý nghĩa tên gọi Quán Thế Âm Bồ Tát


- Quán là quán xét, thấy nghe, biết đối tượng thật rõ ràng

- Thế là cõi đời, cỏi hữu tình thế gian.

- Âm là tiếng niệm, tiếng kêu cứu, tiếng cầu nguyện từ mọi nơi đau khổ phát ra.

- Bồ Tát là độ thoát cho loài hữu tình, cứu thoát, giác ngộ cho tất cả các loài chúng sinh có tình cảm được vượt thoát ra khỏi khổ đau ách nạn.


Đức Quan Thế Âm Bồ Tát đạt được diệu quả Nhĩ căn viên thông nên quán xét và nghe, thấy, biết cùng tột tiếng kêu đau khổ khắp cõi thế gian, hiện ngay nơi đó để cứu độ chúng sanh được vượt thoát tất cả những hiểm nguy. Vì vậy gọi là  Quan Thế Âm. Do công hạnh cứu độ tự tại nhiệm mầu đó, nên trong kinh điển còn gọi là Quán tự tại Bồ tát.


Quan Thế Âm Bồ Tát theo tiếng Phạn Avalokitesvara nghĩa là Ngài nghe tiếng kêu thầm kín thiết tha từ tâm khảm chúng sanh trong thế gian mà đến cứu khổ. Đem an lạc từ bi tâm vô lượng không phân biệt dến với mọi loài, nói cách khác là tình yêu thương trìu mến vô biên gấp muôn vạn lòng dạ của bà mẹ hiền ở thế gian đối với đứa con cưng, nên gọi là Từ mẫu Quán Thế Âm.


Trong năm, có ba lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát


Hằng năm phật tử khắp nơi trên thế giới thường làm lễ vía Quan Thế Âm Bồ Tát thật trang nghiêm vào các ngày : 19/2, 19/6 và 19/9 đều theo Âm lịch.


- Ngày 19/2 là vía QUÁN THẾ ÂM ĐẢN SANH

- Ngày 19/6 là vía QUÁN THẾ ÂM THÀNH ĐẠO

- Ngày 19/9 là vía QUÁN THẾ ÂM XUẤT GIA

Nguồn: http://phatgiao.org.vn/hoi-dap/201307/duc-Quan-The-am-Bo-Tat-la-nam-hay-nu-11431/

Thứ Tư, 6 tháng 8, 2014

Hòa giải với dục vọng: Rũ bỏ tham - sân - si

Hòa giải với chính dục vọng của mình chính là cách giải quyết chiến tranh với những lò lửa tham, sân, si một cách hòa bình nhất.


Thảm kịch đều bắt nguồn từ dục vọng

Có thể nói, mọi thảm kịch trên đời đều bắt nguồn từ dục vọng! Mặc dù dục vọng có vẻ lên men như một hạt men rất âm thầm trong thân xác con người, nhưng nếu như một đốm lửa có thể cháy lan nuốt chửng cả thế giới, thì dục vọng là một bếp lò, nếu không biết xử lý hoàn toàn có thể thiêu cháy toàn vũ trụ. Đã có vô vàn bằng chứng về các thảm họa dụng vọng của con người. Chúng ta thử ôn lại một thứ bài học kinh điển trong thần thoại Hy lạp. Paris cuỗm nàng Helen xinh đẹp của Hy Lạp đến Tơ-roa, khiến cả quốc gia Hy Lạp mất mặt, và họ quyết định cử những đại chiến thuyền đi chinh phục Tơ-roa để báo thù và đòi lại nàng Helen. Thế rồi trong chín năm ròng, ngày ngày chiến tranh xảy ra, những người đàn bà Tơ-roa chôn chồng và con chết trận mà không được khóc, bởi vì họ không được phép làm nản lòng những binh sĩ phải ra trận vào ngày mai, họ chỉ còn cách nguyền rủa sắc đẹp của nàng Helen. Than ôi, có sắc đẹp tại sao lại bị nguyền rủa ? Thực ra không phải mọi người nguyền rủa sắc đẹp, mà nguyền rủa dục vọng do sắc đẹp gây nên.

Đức Phật Thích Ca đã từ bỏ cung điện vàng son, vợ đẹp, sự xa hoa cái gì cũng có  băng vào chốn cát bụi đi tìm ý nghĩa giác ngộ để cứu vãn bể khổ của cuộc đời. Có nghĩa là Ngài đã dứt bỏ những dục vọng mạnh mẽ nhất để đi tìm hạnh phúc lâu bền. Và không ai khác ngoài chính Ngài đã tìm ra và tuyên xưng: những dục vọng Tham - Sân - Si, chính là khởi nguồn của mọi truy cầu, tranh giành, đấu đá, rồi thảm họa cho con người.

Dục vọng, như người Trung Hoa đã phát giác sau phương ngôn: "ngũ âm mà khôn xiết nghe, ngũ sắc mà khôn xiết nhìn, ngũ vị mà khôn xiết nếm". Điều này cũng có nghĩa là: tai người ta luôn muốn nghe âm thanh ngọt ngào, mắt muốn ngắm nghía sắc đẹp, và miệng luôn muốn ăn uống say sưa rượu ngon thức béo... Và những ham muốn đó chính là những động cơ truy cầu, dẫn người ta tìm kiếm, rồi tranh giành để đạt được, rồi đánh nhau xưng đầu mẻ trán, thậm chí ghen tuông, thù oán, hắt a-xít, dùng dao, dùng súng , rồi cả đại đoàn quân giết chóc lẫn nhau. Trong rất nhiều cuộc chiến tranh thủa xưa, khẩu hiệu xông lên lao vào chém giết chỉ đơn giản thế này: "Này các chiến binh hãy xông lên! Vinh quang và hạnh phúc của các bạn chỉ ở ngay phía trước trong tầm tên bay. Hãy lăn xả vào mà chiến thắng và chiếm đoạt. Của cải lấy được sẽ là của các bạn! Những người đàn bà góa bụa của đối phương cũng sẽ là của các bạn!" Thế là hai bên lăn xả vào chém giết lẫn nhau.


Con người có rất nhiều dục vọng như ăn uống, hưởng thụ phương tiện, nhưng có lẽ dục vọng mạnh nhất là: dục vọng Sinh-Dục. Có rất nhiều con người có thể vượt qua các dục vọng khác nhưng dục vọng sinh dục là một thách thức nặng nề nhất. Chẳng hạn, với rất nhiều thầy tu đức cao vọng trọng, nhưng vẫn bị tố cáo là lạm dụng tình dục. Dục vọng này là một thách thức khởi nguồn dữ dội với một thầy tu hay giáo sĩ ngay ngưỡng cửa đầu tiên khi họ bước vào tu giới. Khi đó họ phải làm một cam kết nguyện sống cô đơn. Trời ơi, cam kết đó cũng có nghĩa là phản kháng lại Sinh-Dục. Người Việt có đôi câu ca dao mô tả thách thức của dục vọng này:

Văn chương chữ nghĩa bề bề
... ám ảnh cũng mê mẩn đời.

Sinh - Dục là một tên gọi rất chính xác và trực tiếp. Nó có nghĩa là dục vọng - sinh sản. Cơ quan đó không chỉ mang ý nghĩa hưởng lạc thuần túy, mà nó còn bao hàm sự truyền sinh của con người và của giống nòi. Như người Trung Hoa xác định "bất hiếu hữu tam, vô hậu vi đại", có nghĩa: có ba sự bất hiếu, nhưng bất hiếu lớn nhất là không đẻ con. Không đẻ, tức là không nối tiếp được dòng dõi cho tổ tiên, ông bà, rồi cha mẹ.

Điều hòa dục vọng: Rũ bỏ tham - sân - si

Thế kỷ 20 đã xuất hiện ông hoàng của lý thuyết dục tính, đó là Freud. Ông phát hiện ra năng lực tình dục của con người, còn gọi là Libido. Và ông cũng phát hiện ra "Mặc cảm dồn nén tình dục" của con người. Đó là mặc cảm sâu xa nhất, mạnh nhất, tiềm tàng nhất mang từ trong vô thức. Để hình dung, chúng ta hãy thử tưởng tượng thế này: quả tên lửa phóng được lên trời là bởi nó mang sức dồn ép từ trong buồng đốt, sức dồn ép đó  càng mạnh thì biến thành áp xuất càng lớn, càng đẩy quả tên lửa vượt khỏi sức hút trái đất để bay lên trời.

Tại sao chỉ có con người có nền văn minh? Chắc hẳn nhờ động năng sinh dục bị dồn nén mà con người bốc thẳng bay vọt được lên nền văn minh. Loài vật không có được sự dồn nén này bởi vì chúng không mảnh vải che thân, chúng thoải mái ngắm nghía nhau, thích lên còn chạy thẳng đến hà hít nhau đúng mục tiêu liền, và cẩn giải tỏa ham muốn thì làm liền, vì thế đời sống sinh dục của chúng không hề bị kiềm tỏa dồn ép, được tí nào chúng giải tỏa ngay tí ấy, làm sao còn tích thành quặng dồn nén được ?! Chính vậy mà chúng không thể có áp lực để bay đến văn minh.

Loài người trái lại, nào quần áo, nào văn hóa, nào truyền thống, nào cả pháp luật vào cuộc bắt người ta phải ăn vận đúng thuần phong mỹ tục, từ đó tạo ra vô vàn dồn nén, bằng chứng của các cuộc xì hơi như nào vẽ tục, xem ảnh khỏa thân, rồi đóng kín cửa quay phim mát... Nhưng chính thế, đó là sự tạo ra lò cao áp để con người có thể bay vọt đến đẳng cấp văn minh. Bằng chứng là, dân tộc nào có sự kiềm chế càng cao thì nền văn minh càng  cao, còn dân tộc nào ăn chơi xả láng vui đâu chầu đấy, sống tùy tiện, tháo cởi càng nhiều thì trình độ văn minh càng thấp.

Con người có một thân xác! Con chim cũng có thân xác! Nhưng những con chim có thể cất cánh thẳng đứng lên trời với tốc độ đập cánh lên đến hàng nghìn lần trên một giây. Tại sao có sự khác nhau lớn đến vậy? Tại vì dục vọng của loài chim rất thấp, có đến hơn 40% các loài chim sống chung thủy, chúng không bao giờ biết đến phương ngôn "một của lạ bằng tạ của quen".

Tất cả các động vật có vú bao gồm cả con người đều thích lang chạ. Có nghĩa là nó muốn dục vọng sinh dục xảy ra càng nhiều càng ít "ăn một lại muốn ăn hai/ ăn ba ăn bốn lại nài ăn thêm".

Nhưng con người không chỉ đơn thuần là loài có vú chỉ thích chung chạ, mà con người cũng là loài chim, muốn chung thủy như loài chim vì nó muốn xây dựng gia đình như tổ ấm của bầy chim. Và con người còn đứng trước một lựa chọn mang cứu cánh và lý tưởng lớn hơn nhiều, đó là: xây dựng thế giới văn minh là điều kiện sống còn của con người. Điều này mới đây đã được Liên Hiệp Quốc xác nhận: Ngày nay con người không sống hạnh phúc đơn giản như ngày xưa nữa ( ngày xưa chỉ no cơm, ấm áo, dựng vợ gả chồng, nhà to cửa rộng), mà ngày nay con người muốn sống hạnh phúc phải bao hàm tiến bộ.

Muốn chọn tiến bộ và văn minh, rõ ràng con người phải tiến hành hòa giải với thứ dục vọng gào thét mãnh liệt nhất của mình. Bởi vì nếu không hòa giải có nghĩa là đàn áp dục vọng thì nó sẽ phản kháng! Còn nếu chiều chuộng dục vọng thì nó sẽ kéo ta xuống đầm lầy của gối chăn buông thả còn lâu mới thấy chân trời của văn minh. Vậy thì ta chỉ còn cách biết hòa giải với chính dục vọng của mình. Đó cũng là cách giải quyết chiến tranh với những lò lửa tham, sân , si một cách hòa bình nhất.


Theo Tuần Việt Nam
Nguồn: https://giacngo.vn/PrintView.aspx?Language=vi&ID=5F725B

Twitter Delicious Facebook Digg Stumbleupon Favorites More

 
Design by Free WordPress Themes | Bloggerized by Lasantha - Premium Blogger Themes | Facebook Themes